Doanh nghiệp vừa và nhỏ với hội nhập kinh tế quốc tế.

No Comment 122 Views
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế và có vai trò tích cực trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của mọi quốc gia trên thế giới. Việt Nam không phải là một ngoại lệ.


1. Vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam với hội nhập kinh tế quốc tế

Vai trò quan trọng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam thể hiện ở sự phát triển trong những năm qua về số lượng, tỷ trọng trong sản xuất, tính đa dạng về lĩnh vực, cũng như khả năng giải quyết việc làm.

Theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP, ngày 23-11-2001: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỉ đồng hoặc số lao động trung bình hằng năm không quá 300 người. Với tiêu chí phân loại này thì có khoảng 80% các doanh nghiệp nhà nước thuộc nhóm các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nếu tính theo tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới (WB) và Công ty Tài chính quốc tế (IFC) thì ngay cả một số tổng công ty của Việt Nam cũng nằm trong nhóm doanh nghiệp quy mô vừa. Vào thời điểm đầu năm 2002, nếu tính tất cả các loại hình kinh doanh thì các doanh nghiệp nhỏ và vừa có trên 2 triệu đơn vị. Trong khu vực kinh tế tư nhân, các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97% về vốn và khoảng 99% về lao động.

Vào đầu năm 2002, các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam hoạt động trong nhiều lĩnh vực, với cơ cấu tỷ lệ của loại hình này như sau : 35,4% thuộc ngành công nghiệp chế biến; gần 10% lĩnh vực xây dựng; 4,4% ngành khách sạn và nhà hàng; 3,3% ngành vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc; 2,1% ngành kinh doanh bất động sản và dịch vụ tư vấn; 1,2% ngành khai thác mỏ… và 7 ngành khác chỉ có dưới 1%.

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã có vai trò khá quan trọng trong một số ngành sản xuất, cụ thể như : Sản xuất, phân phối điện, khí đốt và nước chiếm 61,5%; hoạt động văn hoá và thể thao: 67,4%; tài chính, tín dụng: 72,3%; Vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc: 78%; hoạt động phục vụ cá nhân và công cộng: 83,1%; hoạt động kinh doanh tài sản, dịch vụ tư vấn: 83,5%; công nghiệp khai thác mỏ: 83,6%; khách sạn, nhà hàng: 84,4%; xây dựng: 85,7%; công nghiệp chế biến: 86%; giáo dục và đào tạo: 87,5%; y tế và hoạt động cứu trợ xã hội: 85,7%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy, đồ dùng: 93%; hoạt động khoa học và công nghệ: 94,1%. Trong ngành công nghiệp chế biến, số lượng và tỷ lệ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia vào sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau có sự biến động khá mạnh, tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa tập trung chủ yếu vào 7 phân ngành thuộc ngành công nghiệp chế biến và mỗi phân ngành chiếm tỷ lệ dao động trong khoảng từ 73-93%. Giá trị sản lượng của 7 phân ngành này chiếm 81% tổng giá trị sản lượng của toàn ngành…

Tỷ lệ lao động trong các doanh nghiệp nhà nước và cơ quan hành chính sự nghiệp có chiều hướng giảm. Trong hoàn cảnh này, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngoài quốc doanh trở thành nơi giải quyết nhu cầu về việc làm cho số lao động được tinh giảm trong các doanh nghiệp và hệ thống hành chính nhà nước. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam còn là nơi tạo việc làm cho số lượng lớn những người mới tham gia vào lực lượng lao động hằng năm. Nhìn chung, các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam là nguồn chủ yếu tạo ra việc làm trong tất cả các lĩnh vực. Với việc tuyển dụng gần 1 triệu lao động, các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam chiếm 49% lực lượng lao động trong tất cả các loại hình doanh nghiệp. Có thể thấy, các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đã thu hút nguồn lao động rộng khắp trên phạm vi toàn quốc; riêng vùng Duyên hải miền Trung, tỷ lệ lao động làm việc tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam so với tổng số lao động làm việc ở tất cả các doanh nghiệp đạt mức cao nhất là 67%; khu vực Đông Nam Bộ có tỷ lệ thấp nhất là 44%. Đến đầu năm 2002, lĩnh vực Khách sạn và nhà hàng tuy chỉ tuyển dụng 51.000 lao động nhưng lại chiếm tỷ lệ lao động trong ngành là 89%. Các lĩnh vực cơ bản của ngành công nghiệp chế biến tuyển dụng được 355.000 lao động, nhiều nhất so với 6 ngành khác …

2. Những cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Mặc dù, có sự phát triển ngày một mạnh mẽ, vai trò đối với nền kinh tế ngày một tăng; nhưng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam hiện đang đứng trước những cơ hội rất to lớn và cũng phải đối mặt với những khó khăn, thách thức không nhỏ.

* Những cơ hội:

- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động và phát triển trong một môi trường pháp lý, cơ chế đang được tích cực hoàn thiện theo hướng thông thoáng, gia tăng nhiều ưu đãi. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam phần nào đã khắc phục được tình trạng phân biệt đối xử, được hưởng những ưu đãi trong kinh doanh quốc tế như các doanh nghiệp lớn của Nhà nước. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa được hưởng những hỗ trợ cụ thể về cải tiến quá trình chế tác, quản lý kinh doanh các hoạt động sản xuất thủ công thông qua dự án ” nghiên cứu phát triển ngành thủ công phục vụ công nghiệp hoá ở nông thôn Việt nam ” do Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cùng cơ quan hợp tác quốc tế nhật bản ( JICA) thực hiện….

- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã bước đầu tạo dựng được thế và lực trong kinh doanh nội địa; và từng bước tham gia vào thị trường quốc tế, thu hút đầu tư vốn và công nghệ của nước ngoài. Gần đây, Việt nam được đánh giá là quốc gia có môi trường kinh doanh an toàn nhất ở châu Á – đây là cơ hội rất lớn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam hợp tác với nước ngoài.

* Một số tồn tại, thách thức:

- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường phải vay vốn chủ yếu tới 80% từ các tổ chức phi tài chính, các thân nhân và bạn bè, chỉ có 20% là vay tín dụng từ ngân hàng. Đôi khi, các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải trả cho các chủ nợ phi tài chính chính thức các khoản lãi suất cao hơn từ 3 đến 6 lần so với lãi suất chính thức. Nguyên nhân chủ yếu là do các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các khoản tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng chính thức khác. Ngoài ra, các khoản vay có bảo lãnh rất hiếm khi được dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa và đầu tư vào khu vực các doanh nghiệp nhỏ và vừa bị hạn chế rất nhiều.

- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam còn thiếu đất để làm mặt bằng sản xuất kinh doanh. Việc xin cấp đất hoặc thuê đất để làm trụ sở và xây dựng nhà máy gặp rất nhiều vướng mắc.

- Hiện nay, phần lớn công nghệ do các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đang sử dụng đã trở nên lạc hậu từ 1-2 thế hệ.

- Các kỹ năng và nghiệp vụ quản lý, cũng như tay nghề của lực lượng lao động thuộc các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam còn rất thấp so với yêu cầu hiện nay.

- Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam ngay trên thị trường nội địa cũng bị suy giảm do phải gánh chịu những thông lệ và điều kiện cạnh tranh không bình đẳng.

- Khả năng xúc tiến thương mại, tiếp cận với thị trường trong nước và quốc tế của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam còn nhiều khó khăn. Việc tiếp cận với thông tin về văn bản, pháp luật, thị trường, tiến bộ công nghệ …… còn tản mạn và hạn chế. Khi áp dụng Hiệp định GATT/WTO (từ cuối tháng 9- 2003), sẽ là một khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, bởi đây là một Hiệp định khá phức tạp, mà các nước đều phải giành thời gian dài mới có thể tạo được thuận lợi cho mình.

3. Để các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam vững vàng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Chính phủ đã có nhiều giải pháp về cơ chế và chính sách, tạo điều kiện hỗ trợ để các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát huy tối đa các tiềm năng, kinh doanh có hiệu quả, nâng cao sức cạnh tranh trong nước cũng như ngoài nước. Song thực tiễn đang đòi hỏi các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam phải có những bước tiến mới để có thể hội nhập và phát triển cùng với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong khu vực và thế giới. Dưới đây, xin đề xuất một số giải pháp cụ thể.

Thứ nhất, hệ thống pháp luật cần phải được tiếp tục hoàn thiện phù hợp với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong việc tiếp cận với nguồn vốn, đất đai, lao động, công nghệ và thông tin thị trường theo hướng: cơ chế chính sách phải đồng bộ; xoá bỏ những phân biệt đối xử về tín dụng, thuế, giá thuê đất và các ưu đãi khác… Thực hiện nghiêm túc theo Luật Doanh nghiệp, ban hành Luật Khuyến khích đầu tư áp dụng chung cho cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

Thứ hai, phát triển thị trường lao động và có chính sách thích hợp đối với thị trường bất động sản. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa được mở rộng quyền thuê và tuyển dụng lao động. Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiến hành các hoạt động đào tạo, dạy nghề nâng cao trình độ chuyên môn của người lao động. Nhà nước có thể cấp lại một phần hay toàn bộ số tiền thuế thu nhập mà các cơ sở đào tạo, dạy nghề đã nộp vào ngân sách để dùng vào đầu tư phát triển. Xem xét sửa thuế thu nhập đối với người Việt Nam. Nghiên cứu xây dựng hệ thống bảo hiểm thất nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình cơ cấu lại các doanh nghiệp nhỏ và vừa… Chuyển việc yêu cầu các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải trích lập quỹ phúc lợi, trợ cấp mất việc làm sang tham gia Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

Thị trường bất động sản và chính sách đất đai phải xây dựng được hệ thống đăng ký, khắc phục sự bất bình đẳng trong việc giao, cấp đất cho sản xuất kinh doanh. Hình thành loại hình dịch vụ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bảo đảm cho việc kinh doanh quyền sử dụng đất được thuận lợi, trôi chảy. Mở rộng quyền của doanh nghiệp tư nhân trong việc chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp…

Thứ ba, phát triển thị trường tài chính, tăng sự hỗ trợ của Nhà nước cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hỗ trợ về tài chính của Nhà nước cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa là rất cần thiết, nhất là các loại này mới được thành lập. Về nguyên tắc, chính sách hỗ trợ này cần đảm bảo được sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Tuy nhiên, để phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế thì các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc biệt của Nhà nước chỉ nên tập trung vào một số doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định là cần thiết, không nên áp dụng chính sách này một cách tràn lan, phân tán. Việc hỗ trợ của Nhà nước có thể thực hiện thông qua hai hình thức: thành lập Công ty đầu tư tài chính nhằm giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa mua cổ phần hoặc trái phiếu chuyển nhượng; thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng để bảo lãnh một phần cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được các khoản vay tại các tổ chức tín dụng thông qua việc cấp bảo lãnh, tái bảo lãnh tín dụng và chia sẻ rủi ro khi xảy ra bất khả kháng không trả được nợ vay…

Việc hình thành và phát triển các loại hình dịch vụ tài chính, tín dụng là hướng cơ bản để giải quyết vấn đề nguồn vốn đầu tư cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong đó, vấn đề trước mắt là phải làm lành mạnh hoá tình hình tài chính của các tổ chức tín dụng. Nghiên cứu để áp dụng một hệ thống giám sát từ xa đối với thị trường tài chính theo các chuẩn mực thông lệ quốc tế. Xây dựng thêm loại hình tổ chức tín dụng mới để hỗ trợ lẫn nhau và nên chuyển Quĩ tín dụng nhân dân trung ương thành Ngân hàng Phát triển kinh tế ngoài quốc doanh. Khuyến khích việc phát triển dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán, kiểm toán và về những dịch vụ liên quan đến tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Có chính sách hỗ trợ về thông tin, đào tạo nhằm hình thành hệ thống thông tin về kinh tế – tài chính doanh nghiệp trong phạm vi cả nước… Nhà nước thực hiện việc hướng dẫn và hỗ trợ về nghiệp vụ, về phương pháp quản lý,.…..công bố công khai những thông tin về các định hướng đầu tư phát triển của từng ngành, vùng và lãnh thổ; hỗ trợ về cơ sở hạ tầng để giảm thiểu chi phí kinh doanh. Cần qui hoạch đô thị, xây dựng các cụm công nghiệp, quy mô nhỏ ở một số thành phố nhằm đảm bảo được sự ổn định về địa bàn kinh doanh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Thứ tư, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong kinh doanh và mở rộng thị trường xuất khẩu. Để giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ động, linh hoạt trong hoạt động kinh doanh, cần có sự cải cách về đăng ký kinh doanh, cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh, thủ tục vay vốn, phương thức thanh toán, kê khai nộp thuế… Các cấp, các ngành cần tạo điều kiện để các doanh nghiệp được tự do đăng ký kinh doanh, thay đổi sản phẩm và xuất nhập khẩu hàng hóa theo quy định của pháp luật.

Để xuất khẩu có hiệu quả, cần khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân trực tiếp xuất khẩu, cũng như gián tiếp tham gia vào hoạt động xuất khẩu. Hỗ trợ những doanh nghiệp nhỏ và vừa trực tiếp tham gia vào các hợp đồng xuất khẩu, không phân biệt mặt hàng xuất khẩu; mở rộng các nghiệp vụ bảo hiểm xuất khẩu. Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong quá trình đẩy mạnh xuất khẩu cần chú ý đến thương hiệu sản phẩm…

Thứ năm, nâng cao hơn nữa vai trò của các hiệp hội, câu lạc bộ giám đốc và tổ chức chuyên môn đối với sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa .

Ở các nước có nền kinh tế phát triển, các hiệp hội chuyên ngành, các câu lạc bộ…. có vai trò to lớn trong việc xúc tiến thương mại, giao lưu, trao đổi thông tin và hỗ trợ phát triển chuyên môn. Ở Việt Nam, cũng có một số hiệp hội ngành hàng, tổ chức chuyên môn đã tích cực hoạt động nhưng hiệu quả và vai trò còn hạn chế. Các hiệp hội, các câu lạc bộ chuyên ngành cần nâng cao chất lượng và hiệu quả trong việc tổ chức sinh hoạt, giao lưu, giới thiệu kinh nghiệm trong nước và quốc tế, cập nhật thông tin về ngành và về hoạt động kinh doanh nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển .

Thứ sáu, tăng cường đào tạo về nghiệp vụ kinh doanh quốc tế cho cán bộ quản lý của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đã xuất hiện những doanh nhân Việt Nam thành công trên thương trường quốc tế, tuy nhiên con số này không phải là nhiều và phát triển còn mang tính tự phát, trình độ kinh doanh quốc tế còn thấp. Những kinh nghiệm từ sự thành công của Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc trong lĩnh vực này cần được chọn lọc và áp dụng.

——————————————————————————–

* Nguồn tham khảo : Tư liệu sưu tập về doanh nghiệp năm 2002 của Trung tâm hợp tác nghiên cứu Việt Nam (CVSC).

(Nguồn: Tạp chí Cộng sản )
Tin liên quan:
Bí quyết phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ Nhật.

About the author

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked (required)

HÌNH ẢNH VYSA
    RSS VYSAJOB
    • Tuyển nhân viên dịch vụ cơ khí / Cần năng lực tiếng Việt bản ngữ
      ➤Nội dung công việc: Nhân viên dịch vụ cơ khí ➤Nắm được yêu cầu của khách hàng và đưa ra sản phẩm đã được làm theo yêu cầu của khách hàng. ➤Tại bộ phận quốc tế có thể có công tác nước ngoài hàng tuần. ➤Hình thức: Nhân viên chính thức ➤Đối tượng: Sinh viên […]
    • Công ty Lawson Staff tuyển người làm thêm ở xưởng bento tại Chiba
      ▶Địa điểm làm việc: Xưởng bento Yachiyo (ga gần nhất Katsutadai, có bus miễn phí đưa tới xưởng) ▶Thời gian làm việc: 15-22h (nghỉ 1 tiếng) Ưu tiên bạn nào làm được 4 ngày 1 tuần. ▶Công việc: xếp hàng vào bento ▶Lương: 850 yên (không có tiền đi lại , nhưng có ăn tối […]
    • [BẢN TIN VYSAJOB 01/09/2014]
        Bản tin gồm những tin chính sau đây ◄ Thông tin Tuyển nhân viên Kinh doanh quốc tế Marketing – Thông dịch viên, quản lý sản xuất từ Career in Japan ◄ TUYỂN THÀNH VIÊN THAM GIA SEMINAR HƯỚNG DẪN XIN VIỆC CHO DU HỌC SINH ◄ Buổi giới thiệu công việc và phỏng […]
    • Tuyển kế toán sẽ làm việc tại các công ty hóa học ở Việt Nam trong tương lai
      ◉Công việc : chế tạo hóa học/ Chemistry manufacturer ◉Nội dung: Công việc đa dạng bao gồm sản xuất/bán các chất bán dẫn hay sản phẩm hóa học ◉Nơi làm việc: Trụ sở chính (Thành phố Osaka) ◉HÌnh thức: Nhân viên chính thức ◉Đối tượng: Sinh […]
    • Tuyển nhân viên WEB marketing khu vực ASEAN
      (Ưu tiên ứng viên có thể công tác dài kì tại nước ngoài) ✦Nội dung công việc: Giao dịch với các công ty nước ngoài trong khu vực ASEAN, nghiên cứu về thị trường nước ngoài, thông dịch và biên dịch ✦Hình thức: nhân viên chính thức ✦Nơi làm việc: Nhật bán hoặc các nước […]
    Xem nhanh